Sột Soạt

Lược sử triết học qua 3 giai đoạn quan trọng

Lược sử triết học

Lược sử triết học sẽ tóm lược lại toàn bộ các giai đoạn của triết học giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về lịch sử của nó. 

Lược sử triết học – Phần 1: Từ cổ đại đến trung cổ

Thường thì ai nghe đến hai từ “triết học” cũng lắc đầu ngán ngẩm. Lắc đầu vì triết học bị coi là cao siêu, khó hiểu. Ngán ngẩm vì triết học chẳng có mấy ứng dụng trực tiếp lên cuộc sống mưu sinh hàng ngày. Thực ra, triết học là nền tảng của mọi thứ quanh ta. Triết học là nghiên cứu về bản chất của thế giới, về sự tồn tại của vạn vật, về việc chúng ta biết hay không biết gì, về cách để chúng ta suy ngẫm.

Tư duy đỉnh cao của triết học sột soạt
Về tổng quan, triết học có 4 nhánh chính.
Nhánh đầu tiên là siêu hình học (metaphysics). Trong nhánh này, các triết gia đi tìm câu trả lời cho bản chất của hiện thực, cái gì tạo nên thế giới quanh chúng ta.
Nhánh thứ hai là tri thức luận (epistemology). Tri thức luận vật lộn với câu hỏi:
  • bản chất của nhận thức là gì?
  • Đâu là chân lý, và đâu là niềm tin?
  • Ta biết những gì, tin những gì, nghi hoặc những gì?
  • Ta có thực sự biết cái mà ta biết không?
  • Và làm sao để ta biết là ta biết?
Nhánh thứ ba là đạo đức học (ethics). Nhánh này đặt ra những câu hỏi lớn về tốt xấu:
  • Cái gì là tốt?
  • Cái gì là xấu?
  • Đúng hay sai được quyết định thế nào?
  • Có cái gì đúng ở bối cảnh này nhưng lại sai ở bối cảnh khác?
Nhánh thứ tư là logic học. Logic học bàn về cách tư duy và các phương pháp suy luận. Logic học là bộ công cụ mạnh mẽ, bổ sung cho rất nhiều các bộ môn khác.
Từ thượng cổ tới hiện đại, con người đã luôn tò mò về bản chất của thế giới. Chừng nào con người còn tồn tại, họ vẫn sẽ không ngừng suy tư về triết học. Hãy thử đi ngược dòng thời gian, để xem nền triết học đã xuất hiện và phát triển ra sao.

Thời cổ đại (năm 700 TCN – 250)

Những thế hệ triết gia đầu tiên đã đặt những câu hỏi trực tiếp về bản chất của thế giới xung quanh. Những sự vật sự việc họ thấy, như trái đất, mặt trời, sấm sét, đặt ra nhiều thắc mắc về bản chất của sự tồn tại là gì, chúng ta nhận thức thế giới ra sao, mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần là gì. Ngoài ra, những triết gia cổ đại này còn phát triển nhiều phương pháp tư duy và lý luận, đặt nền móng cho nền triết học sau này.

img_1

 

Khoảng thế kỷ 6 TCN, ở Trung Hoa xuất hiện một nhân vật là Lão Tử, cha đẻ của Đạo giáo. Theo ông, nguồn gốc của vạn vật là Đạo. Đạo sinh ra vạn vật, nhưng Đạo lại không phải là sự vật. Đạo là tổng hoà của vũ trụ, của những sự tương phản, của sự biến hoá và tuần hoàn không ngừng. Điều này được thể hiện rất rõ ở biểu tượng âm dương: trong âm có dương, trong dương có âm, cả hai hoà quyện, tuần hoàn. Và với Lão Tử, để sống đời đức hạnh, cần hành động theo Đạo: con người cần sống vô vi (không hành động), sống thuận tự nhiên, thả mình theo dòng chảy của vạn vật, nhằm giữ sự hài hoà của thế giới.

img_0

Khoảng 500 năm TCN, Khổng Tử cho ra đời Nho giáo với tư tưởng triết học mang nhiều màu sắc luân lý. Ông chia con người trong xã hội thành vào nhiều thứ bậc, và giữa các thứ bậc có những nguyên tắc đạo đức và trách nhiệm riêng, ví dụ như vua phải nhân từ với bề tôi, bề tôi phải trung thành với vua, con cái phải nghe lời cha mẹ, cha mẹ phải yêu thương con cái. Ngoài ra, ông còn chủ trương cai trị xã hội thông qua đạo đức: người ở thứ bậc cao có trách nhiệm làm tấm gương đạo đức, vua cần làm gương cho dân chúng về sự quang minh chính trực, nhằm cảm hoá và giáo dục dân chúng. Tư tưởng Nho giáo đã làm nền tảng cốt lõi của xã hội Trung Hoa trong hàng ngàn năm sau.img_2
Siddhartha Gautama, hay còn gọi là Đức Phật, từ một hoàng tử sống trong xa hoa quyền quý, đã từ bỏ tất cả để đi tìm sự giác ngộ, từ đó tạo ra Phật giáo. Ông phát triển Phật giáo thông qua lý tính và suy luận, thay vì mặc nhiên chấp nhận những lời dạy từ thánh thần. Ông quan tâm đến những câu hỏi lớn về mục đích sống, nguồn gốc của khổ đau và hạnh phúc, cùng với cách sống cuộc đời tốt đẹp. Ông thấy rằng sự tồn tại luôn đi cùng với khổ đau, và nỗi khổ đau này đến từ ham muốn của con người. Chừng nào con người còn ham muốn, họ vẫn còn khổ đau từ nỗi thất vọng do không được thỏa mãn hoàn toàn. Mục tiêu tối thượng của cuộc đời trong tư tưởng Phật giáo là đạt được Niết Bàn: trạng thái vượt qua bản ngã và không còn ràng buộc với nỗi khổ đau luân hồi.

Hướng cái nhìn sang phương tây, hay cụ thể là Hy Lạp cổ đại, Socrates xuất hiện như một trường hợp vô cùng đặc biệt. Ông được coi như cha đẻ của triết học phương tây, mặc dù ông không tạo ra trường phái hay học thuyết nào. Điều đặc biệt của ông là phương pháp truy vấn biện chứng, hay còn gọi là phương pháp Socrates: với mỗi vấn đề, ông sẽ đứng ở vị trí kẻ không biết gì, sau đó đặt ra hàng loạt câu hỏi với người đối thoại, đào sâu vào cốt lõi, dần dà làm lộ rõ những mâu thuẫn. Ông tin rằng cuộc đời đáng sống là phải luôn đặt ra câu hỏi, nếu không ta sẽ chỉ sống đời vô tri. Hệ thống tư duy của ông đã đặt nền tảng cho các phương pháp lý luận khoa học sau này.

Đặt câu hỏi kiểu Socrates

Đặt câu hỏi kiểu Socrates
Sau khi người thầy Socrates giã từ cõi đời, học trò của ông là Plato đã nối tiếp những bước chập chững của triết học phương tây. Plato nổi tiếng với ngụ ngôn cái hang: nơi những con người bình thường chỉ được thấy cái bóng của những sự vật được hắt trên tường hang. Với ông, những gì con người chúng ta nhận thức được qua giác quan cũng giống như cái bóng trên tường vậy: chỉ là cái bóng của hiện thực, chứ không phải hiện thực. Đây là nền tảng cho học thuyết về Mô thức của ông.
Ông quan niệm rằng mỗi sự vật trên thế giới này sẽ có một Mô thức, một thực thể hoàn hảo bất biến tương ứng.
Ví dụ, tồn tại một Mô thức về quả táo, mang trong nó mọi tính chất lý tưởng của một quả táo. Và những quả táo mà con người nhận thức được đều chỉ là cái bóng của Mô thức quả táo. Đi xa hơn, Plato cho rằng có 2 thế giới tồn tại song song: thế giới của các Mô thức (vĩnh cửu, bất biến), và thế giới giác quan (nơi con người nhận thức mọi thứ bằng giác quan). Và ông tin rằng nếu chỉ dựa vào giác quan để tìm hiểu bản chất thế giới thì không đủ (vì chỉ thấy được cái bóng), mà phải dùng lý tính và suy luận để chạm tới được Mô thức của mọi vật. Hướng tiếp cận này được gọi là chủ nghĩa duy lý.

Ngụ ngôn cái hang của Plato

Ngụ ngôn cái hang của Plato
Aristotle là học trò của Plato, nhưng ông lại không theo hướng tiếp cận của thầy mình. Đi ngược lại niềm tin vào những Mô thức lý tưởng bất biến, Aristotle thấy rằng chân lý có thể được tìm ra bằng cách quan sát thế giới. Cũng với ví dụ quả táo: qua giác quan, con người nhận thức được hàng trăm hàng ngàn quả táo, đa dạng về chủng loại và khác nhau trong nhiều khía cạnh, nhưng chúng sẽ có những đặc tính chung, và những đặc tính chung đó làm nên tính chất của cái gọi là quả táo. Càng quan sát và trải nghiệm nhiều, chúng ta càng có ý niệm rõ ràng hơn về quả táo. Nói rộng hơn, theo Aristotle, chân lý tồn tại ở ngay thế giới này (chứ không nằm tách biệt ở một thế giới Mô thức), và chúng ta có thể tìm thấy chân lý thông qua kinh nghiệm và giác quan. Hướng tiếp cận này được gọi là chủ nghĩa duy nghiệm, và cuộc đối đầu giữa duy lý và duy nghiệm sẽ còn tiếp tục rất dài hơi trong lịch sử.
Vào khoảng 300 năm TCN, chủ nghĩa Khắc kỷ ra đời dưới sự sáng lập của Zeno, và trong vài trăm năm sau, những triết gia như CiceroSeneca đã giúp truyền bá chủ nghĩa Khắc kỷ khắp đế chế La Mã. Tư tưởng cốt lõi của Khắc kỷ khuyên ta chỉ nên lo lắng tới những điều ta có thể kiểm soát được, nhằm đạt được sự tĩnh tại nội tâm. Ví dụ như khi thời tiết chuyển xấu hay người thân qua đời, những người Khắc kỷ sẽ không bị suy sụp tinh thần, do những việc này hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát. Tư tưởng Khắc kỷ còn cho rằng chúng ta cần có trách nhiệm với cảm xúc và suy nghĩ của mình, vì cảm xúc của ta là do ta lựa chọn. Cảm xúc làm mờ lý trí và sự phán đoán. Đặt cảm xúc ra khỏi bàn cân sẽ giúp ta ra quyết định sáng suốt hơn.

Nếu bạn đọc đến đây, cảm ơn!

Nếu muốn nhắn nhỉ gì đó, bạn có thể gửi cho Sột Soạt và form này hoặc để lại bình luận!

← Back

Thank you for your response. ✨

Thời trung cổ (năm 250 – 1500)

Thời kỳ trung cổ mở ra khi đế chế La Mã sụp đổ và châu Âu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Cơ Đốc giáo. Những giá trị triết học thời Hy Lạp – La Mã dần phai mờ dưới sự trỗi dậy của Cơ Đốc giáo. Xã hội giờ đây tìm kiếm câu trả lời trực tiếp cho bản chất vũ trụ thông qua Kinh Thánh chứ không qua những thảo luận triết học. Tuy vậy, vẫn có nhiều học giả thời trung cổ tìm cách hợp nhất triết học Hy Lạp vào giáo lý Cơ Đốc, nhằm tìm ra lời giải thích duy lý cho tôn giáo. Ở một diễn biến khác, Hồi giáo lan rộng mạnh mẽ, các học giả Hồi giáo lại là người gìn giữ triết học Hy Lạp – La Mã trong một thời gian dài.
Augustine vừa là một con chiên ngoan đạo, vừa là một người với nhiều thắc mắc. Ông đặc biệt quan tâm đến chủ đề về sự tốt xấu. Ông tự hỏi tại sao Chúa để cái xấu tồn tại. Và câu trả lời của ông là Chúa tạo ra mọi thứ trừ cái xấu. Theo ông, cái xấu không phải là thứ riêng biệt, mà cái xấu là sự thiếu vắng của cái tốt: một người lưu manh không phải vì họ sở hữu sự lưu manh, mà do họ thiếu sự tốt lành. Ngoài ra, ông tin rằng con người có lý tính, và để tạo ra con người có lý tính, Chúa cần cho con người tự do ý chí. Điều này nghĩa là con người được tự do hành động, kể cả hành động tốt hoặc hành động thiếu tốt (hành động xấu). Con người có thể chọn tuân theo Chúa (hành động tốt) hoặc đi ngược lại lời Chúa (hành động xấu). Theo cách nghĩ này, niềm tin trong Kinh thánh về một Chúa toàn năng – toàn thiện – toàn tri vẫn được bảo toàn, và cái xấu đến từ sự tự do ý chí nơi con người chúng ta.

Triết gia La Mã Boethius cũng tin vào một Chúa toàn năng – toàn tri – toàn thiện, nhưng điều này lại gợi ra trong ông nhiều câu hỏi về ý chí tự do. Một câu hỏi lớn làm Boethius băn khoăn: nếu như Chúa là toàn tri (biết mọi thứ), vậy làm sao con người có được ý chí tự do? Ví dụ như việc ta sẽ đi ra ngoài chiều nay: Chúa biết mọi việc trên đời, cả quá khứ hiện tại và tương lai. Việc ra ngoài của ta trong tương lai đã được Chúa biết trước ngay bây giờ.
Vậy ta không thật sự có tự do ý chí trong việc chọn ra ngoài hay ở nhà chiều nay hay sao? Câu trả lời của Boethius là cách chúng ta nhìn nhận thời gian khác với Chúa: con người cảm nhận thời gian theo một dòng chảy tuyến tính đi từ quá khứ tới hiện tại và tương lai. Trong khi đó, Boethius tin rằng Chúa tồn tại trong một thực tại vĩnh hằng, nơi quá khứ hiện tại tương lai là một. Chúa nhận biết mọi thứ trong một khoảnh khắc bất tận. Vậy nên, việc chúng ta định ra ngoài trong tương lai, hay việc chúng ta đang ở nhà, với Chúa, đều nằm trong cùng một thời điểm. Điều này không ngăn cản sự tự do ý chí của con người.
Avicenna là một trong những triết gia Ả Rập vô cùng nổi tiếng. Tuy là một tín đồ Hồi giáo, ông lại đi theo tư tưởng và phương pháp lập luận của Aristotle. Ông quan niệm rằng tinh thần và thể xác là hai thứ tách biệt, thể hiện qua thí nghiệm tưởng tượng tên là Người bay. Giả sử chúng ta bị bịt mắt, bịt tai, trôi lơ lửng trong thinh không, ta sẽ không biết mình có một thể xác do không có cảm nhận vật lý nào. Tuy vậy, ta vẫn nhận thức được mình đang tồn tại. Vậy cái đang tồn tại là gì? Avicenna tin rằng đây là tinh thần của chúng ta, tách biệt với thể xác.

Thí nghiệm của Avicenna

Thí nghiệm của Avicenna
Anselm là tổng giám mục xứ Canterbury, một chức vụ cao trong hệ thống giáo hội. Vừa mộ đạo, lại sở hữu tài năng logic, Anselm đã đưa ra những lập luận chứng minh rằng Chúa hiện hữu. Trong lập luận của mình, ông thừa nhận hai điều: một – Chúa là điều vĩ đại nhất mà ta có thể nghĩ bàn, và hai – sự hiện hữu thì vĩ đại hơn sự phi hiện hữu. Ông nói rằng, trong tâm trí chúng ta, có khả năng tồn tại một ý niệm về thứ vĩ đại nhất. Do Chúa là điều vĩ đại nhất mà ta có thể nghĩ bàn, vậy nên:
  • Chúa là điều vĩ đại nhất trong tâm trí ta (điều 1).
  • Nhưng Chúa chỉ tồn tại trong tâm trí lại không vĩ đại bằng Chúa tồn tại ở cả tâm trí và hiện thực (điều 2).
Vậy nên Chúa phải tồn tại. Theo logic này, chỉ cần nghĩ về Chúa thì Chúa tồn tại, ở cả tâm trí và hiện thực.
Vài trăm năm sau, một nhà thần học là Thomas Aquinas đưa ra những lý luận về nguồn gốc của vạn vật. Lấy ví dụ một vật bất kỳ quanh ta: vật này được hình thành từ một nguyên nhân nào đó. Rồi những nguyên nhân trên lại có nguyên nhân gây ra chúng. Chuỗi nhân quả đó cứ thế kéo dài đến tận cùng, Aquinas tin rằng điều này là không thể. Cần có một nguyên nhân đầu tiên, một nguyên-nhân-không-có-nguyên-nhân, đóng vai trò khởi thuỷ của toàn bộ chuỗi nhân quả trong vũ trụ.
Theo ông, nguyên nhân đầu tiên này là Chúa. Mặt khác, Aquinas cũng đi theo lý luận của Aristotle: vũ trụ luôn luôn tồn tại (tức là tồn tại vĩnh cửu). Vậy thì Chúa nằm đâu trong tiến trình của vũ trụ? Aquinas đã dung hoà hai cách nghĩ này và kết luận rằng: Chúa tạo ra sự vĩnh cửu của vũ trụ. Lập luận này giúp ông được tôn vinh làm triết gia chính thống của Giáo hội Cơ Đốc.

Câu hỏi lớn của Aquinas: điều gì khởi tạo vũ trụ?

Câu hỏi lớn của Aquinas: điều gì khởi tạo vũ trụ?
Thời trung cổ đậm đà màu sắc tôn giáo sẽ dần lui về phía sau, nhường sân khấu cho thời phục hưng hơi hướng thế tục hơn. Phần 2 sẽ nói về triết học từ thời phục hưng tới cuối thời kỳ cách mạng.

Lược sử triết học – Phần 2: Từ phục hưng đến cận đại

img_0

Phần 1 đã đi qua nền triết học từ những ngày sơ khai của nhân loại đến thời trung cổ đầy màu sắc của đức tin và thánh thần. Cuối thời trung cổ, thế giới bước vào giai đoạn Phục hưng, và từ đó, triết học chuyển mình mạnh mẽ, tiến đến những góc nhìn đầy tươi mới.

Thời phục hưng và lý tính (năm 1500 – 1750)

Thời kỳ Phục Hưng là lúc mà các giá trị văn hoá Hy-La được quan tâm mạnh mẽ trở lại. Với việc xem con người làm trung tâm thay vì thánh thần, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, triết học thời kỳ này bắt đầu có màu sắc lý tính và thế tục. Xã hội lại được thấy sự đối đầu giữa chủ nghĩa duy lý (tri thức đến từ suy luận) và chủ nghĩa duy nghiệm (tri thức đến từ kinh nghiệm). Ngoài ra, các tư tưởng triết học mang tính chính trị cũng ra đời, tạo tiền đề cho nhiều chuyển biến trong cốt lõi cấu trúc xã hội.
Niccolo Machiavelli, nhà ngoại giao của Florence, đã đưa ra những ý tưởng đầy khác biệt so với thời ông sống. Vốn đảm nhiệm công việc ngoại giao, ông cho rằng một chính trị gia giỏi là người không bị luân lý trói buộc. Bậc cai trị, theo Machiavelli, cần phải đảm bảo lợi ích và an ninh cho quốc gia. Machiavelli tin rằng nhà cai trị tốt không thể, không nên và không được giữ lời hứa, mà họ cần phải lừa gạt, thao túng, phản bội, lợi dụng, tất cả vì mục tiêu và lợi ích lớn hơn của quốc gia họ trị vì.

Tư tưởng của Machiavelli

Tư tưởng của Machiavelli
Được công nhận là người đầu tiên của chủ nghĩa duy nghiệm Anh quốc, Francis Bacon cho rằng mọi tri thức đến từ kinh nghiệm, nhận thức bởi các giác quan. Ông lập luận rằng khoa học được phát triển nhờ việc tìm ra những quy luật ngày càng tổng quát. Với mỗi giả thuyết mới, ngoài việc quan sát liên tục để tìm ra kết luận, ông còn yêu cầu phải liên tục kiểm tra giả thuyết đó qua việc tìm kiếm những ví dụ phủ định. Điều này giúp giới khoa học dần chú tâm hơn vào việc thí nghiệm.

Tóm tắt chủ nghĩa duy nghiệm

Tóm tắt chủ nghĩa duy nghiệm
Thomas Hobbes là một trong những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại nhất nước Anh. Ông tin rằng trạng thái tự nhiên, hay bản chất của con người, là ích kỷ, vô pháp, bạo lực, tham lam. Trong trạng thái tự nhiên, do không có luật pháp và ai cũng chiến đấu vì bản thân, nên sự hỗn loạn bao trùm. Do đó, Hobbes tin rằng xã hội cần có khuôn khổ để con người kính sợ và tuân theo. Hobbes đưa ra ý tưởng về Khế ước Xã hội, một hợp đồng ràng buộc giữa con người với nhau. Trong Khế ước Xã hội, người dân trao lại quyền lực cho nhà nước và từ bỏ một phần tự do, đổi lấy sự bảo vệ của nhà nước và pháp luật.
Ngoài ra, Thomas Hobbes còn là một nhà duy vật: ông quan niệm rằng con người đơn thuần chỉ là vật chất, và thứ gọi là linh hồn không tồn tại. Theo ông, con người chỉ đơn giản là những cỗ máy vô cùng phức tạp mà thôi.

Thực thể Leviathan (tượng trưng cho nhà nước) được tạo ra bởi người dân, nắm trong tay thanh kiếm tượng trưng cho quyền lực, nhằm bảo vệ người dân

Thực thể Leviathan (tượng trưng cho nhà nước) được tạo ra bởi người dân, nắm trong tay thanh kiếm tượng trưng cho quyền lực, nhằm bảo vệ người dân
Không chỉ nổi tiếng với những thành tựu toán học, Rene Descartes còn là một nhà triết học. Ông được biết đến rộng rãi với câu nói: “Cognito ergo sum” – “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”. Ông có được câu nói này qua một thí nghiệm tưởng tượng: vốn là một người luôn hoài nghi mọi thứ, Descartes đưa ra giả dụ là có một con quỷ quyền năng đang cố lừa bịp chúng ta về mọi điều trên thế giới. Con quỷ này có thể khiến ta tin rằng 1+1=3. Con quỷ có thể làm ta tưởng rằng ta đang ngồi đây đọc những dòng này, nhưng thực ra ta chỉ là một bộ não trong cái bình ở phòng thí nghiệm của nó, và con quỷ truyền những ý thức huyễn tưởng vào não ta. Nhưng dù cho con quỷ có thực hay không, phải tồn tại một thứ gì đó để con quỷ có thể lừa gạt. Chỉ cần ta có suy nghĩ, thì tức là ta có tồn tại, vì con quỷ không thể lừa suy nghĩ của ta nếu ta không tồn tại. Từ đó, câu nói “tôi tư duy, nên tôi tồn tại” ra đời. Đây là khởi đầu của Nhị nguyên luận, với tư tưởng chủ đạo rằng tâm trí tồn tại tách biệt với thể xác, và hai phần này có những tương tác nhất định với nhau.
Giống như Descartes, Blaise Pascal là một nhà toán học, và cũng nổi tiếng với những tư tưởng triết học của mình. Ngoài ra, Pascal còn là một tín đồ ngoan đạo. Khác với nhiều triết gia cố chứng minh sự tồn tại của Chúa thông qua lý luận, Pascal đưa ra lập luận nhằm khuyên mọi người nên tin vào Chúa.
Ông cho rằng chúng ta có thể cá cược: Chúa có thể tồn tại hoặc không. Nếu ta cược rằng Chúa không tồn tại: giả sử ta thắng cược (Chúa không tồn tại), thì ta nhận được cảm giác về sự độc lập của bản thân giữa thế giới; còn giả sử ta thua cược (Chúa có tồn tại) thì ta sẽ mất đi cơ hội được lên thiên đường và có khả năng bị đày dưới địa ngục. Với lựa chọn đánh cược mà phần thưởng tiềm năng thấp hơn rất nhiều so với rủi ro tiềm năng, tốt hơn hết ta nên đánh cược rằng Chúa có tồn tại. Theo Pascal, những kẻ đặt cược khôn ngoan với cái đầu lạnh sẽ cược vào việc Chúa có tồn tại.

Tóm tắt lại: hãy cược rằng Chúa tồn tại. Nếu thua, ta chẳng mất gì. Nếu thắng, ta lợi rất nhiều.

Tóm tắt lại: hãy cược rằng Chúa tồn tại. Nếu thua, ta chẳng mất gì. Nếu thắng, ta lợi rất nhiều.
John Locke, một triết gia người Anh, tiếp bước chủ nghĩa duy nghiệm Anh quốc. Ông cho rằng mọi thứ ta biết, hay còn gọi là tri thức của ta, đều đến từ kinh nghiệm. Khi mà nhiều triết gia duy lý tin rằng rằng tri thức có thể đạt được chỉ với sự logic và lập luận, hay nói cách khác, là con người sở hữu một dạng tri thức bẩm sinh, John Locke phản đối tư tưởng này. Ông cho rằng con người sinh ra là tờ giấy trắng, không sở hữu kinh nghiệm gì. Để khái niệm tri thức bẩm sinh tồn tại, cần có ý niệm phổ quát nào đó ở con người thuộc mọi nền văn hoá ở mọi thời kỳ. John Locke cho rằng những ý niệm đó không tồn tại, vì vậy ông tuyên bố mọi học thuyết về ý niệm bẩm sinh là sai lầm. Một lần nữa, với ông, tri thức chỉ được tạo nên từ kinh nghiệm.

Thời kỳ cách mạng (năm 1750 – 1900)

Trong khoảng 150 năm từ giữa thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19, thế giới trải qua nhiều cuộc cách mạng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực. Ảnh hưởng từ tôn giáo vẫn trên đà thoái trào. Khoa học ngày càng phát triển. Những thành tựu này có được nhờ quá trình nuôi dưỡng và tích lũy từ thời phục hưng và lý tính trước đó. Trong thời kỳ cách mạng, nhiều đột phá về khoa học diễn ra, nhiều tư tưởng về chính trị xã hội ra đời, đổi thay sâu sắc xã hội phương tây.
Voltaire là một triết gia người Pháp sống trong thời kỳ có nhiều phát kiến khoa học, đem lại nhiều góc nhìn mới về thế giới. Ông nhận ra rằng trong suốt lịch sử, mọi thứ được coi là sự thật, mọi học thuyết, mọi giáo điều, đều từng bị chỉnh sửa ở một thời điểm nào đó, vậy nên không có gì đúng mãi mãi. Lập luận này làm ông trở nên hoài nghi, và ông tin rằng mặc dù hoài nghi là cảm giác không dễ chịu gì, nhưng sự chắc chắn vào chân lý vĩnh cửu mới là vô lý.
Theo ông, cái gọi là “sự thật” chỉ đúng cho đến khi được chứng minh là sai, hay nói cách khác, không có chân lý tuyệt đối. Phát triển từ suy luận đó, ông nói rằng những giáo điều, luật lệ, trật tự xã hội đều không phải chân lý, thế nên người dân cần hoài nghi và thách thức chúng thay vì cứ việc chấp nhận như lẽ thường. Tư tưởng này vô cùng quan trọng trong việc người dân đứng lên chống lại thể chế và tầng lớp cai trị.
David Hume sinh ra trong thời kỳ châu Âu đang đầy những cuộc tranh luận về bản chất tri thức, hay còn biết đến là cuộc đối đầu giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm. Một bên tin rằng tri thức có thể đạt được thông qua suy luận lý tính, bên còn lại cho rằng kinh nghiệm tạo nên tri thức. David Hume đã chia những thứ mà tâm trí ta có thành hai loại: ấn tượng – đến từ tri giác trực tiếp như nghe, nhìn, chạm, ngửi; và ý niệm – đến từ việc suy nghĩ và tưởng tượng dựa trên những ấn tượng trên. Ông tin rằng ý niệm chỉ là bản sao của các ấn tượng, hay nói cách khác, ta không thể nghĩ về thứ mà ta chưa bao giờ cảm nhận.
Mặt khác, ông quan sát việc con người nhìn nhận sự nhân quả: khi một việc xảy ra liên tục, ta ngầm giả định rằng nó sẽ mãi vận hành như vậy. Chẳng hạn như con người luôn thấy mặt trời mọc mỗi sáng, và nghiễm nhiên cho rằng sáng mai sẽ chẳng khác gì sáng nay. Đây được gọi là lập luận quy nạp. Với Hume, không thể khẳng định như vậy được. Biết đâu có lúc nào đó mặt trời không mọc? Ta chẳng thể chắc chắn về việc mặt trời mọc mỗi sáng khi mà ta không thể quan sát mọi lần mặt trời mọc. Hume nói rằng suy luận quy nạp kiểu này đơn thuần là do thói quen ngầm giả định của con người thay vì lý tính. Điều này giáng một đòn mạnh mẽ đến tư tưởng của chủ nghĩa duy lý.
Jean-Jacques Rousseau là nhân vật vô cùng quan trọng trong nền tư tưởng chính trị thời kỳ Khai sáng. Trước đó, Thomas Hobbes đưa ra quan điểm về trạng thái tự nhiên của con người:  ích kỷ, vô pháp, bạo lực, tham lam. Thế nhưng Rousseau lại có cái nhìn trái ngược. Ông tin rằng con người trong trạng thái tự nhiên là những sinh vật lương thiện, hiền lành. Nhưng sự xuất hiện của tiền tài, quyền lực, sự hình thành của xã hội, đã sinh ra lòng đố kị, thói tham lam, sự bất công giữa con người với nhau. Con người sinh ra tự do, nhưng xã hội lại đặt gông cùm lên họ. Trớ trêu thay, nền văn minh đã làm tha hoá con người.

img_1

Rousseau trăn trở tìm cách để con người chung sống, vừa tuân thủ luật pháp, mà vẫn có được tự do. Giải pháp ông đưa ra là một Khế ước Xã hội, với ý tưởng chủ đạo là một xã hội nơi tất cả công dân, chứ không chỉ mình tầng lớp vua chúa, được tham gia vào công việc lập pháp, thi hành luật pháp theo ý chí tập thể. Luật được người dân ban ra và áp dụng cho người dân, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, tất cả vì lợi ích của toàn dân. Những tư tưởng này của Rousseau đã thúc đẩy cách mạng Pháp diễn ra, biến Pháp từ một nước quân chủ chuyên chế thành một nước cộng hoà, mang lại bình đẳng cho người dân, với những giá trị về tự do, bình đẳng, bác ái.

Người dân phá ngục Bastile trong cách mạng Pháp

Người dân phá ngục Bastile trong cách mạng Pháp

 

Cha đẻ của kinh tế học, Adam Smith, đã cho ra đời những ý tưởng về hoạt động kinh tế của con người. Theo ông, con người là sinh vật hành động vì tư lợi, từ đó sinh ra hành động thương lượng mua bán, nơi mà họ đi đến thỏa thuận đôi bên cùng có lợi. Nhu cầu trao đổi hàng hoá này đã đặt dấu chấm hết cho sự tự cung tự cấp. Nhờ có giao thương, con người dần trở nên chuyên môn hoá: họ tập trung vào một hoặc vài lĩnh vực cụ thể, đẩy mạnh năng suất và sản lượng ở lĩnh vực đó, dùng sản phẩm dư thừa để trao đổi lấy những sản phẩm khác.
Sự tổng hòa của trao đổi và chuyên môn hoá này tạo nên một thị trường tự do, nơi xã hội xích lại gần nhau qua việc giao thương đôi bên cùng có lợi. Bàn tay vô hình của thị trường với những quy luật cung cầu sẽ điều tiết lượng hàng hoá và định giá hàng hoá hiệu quả hơn bất kỳ chính phủ nào. Với Adam Smith, mưu cầu tư lợi của con người là chất keo dính tuyệt vời của xã hội.

img_2

Giữa cuộc đối đầu khắp châu Âu giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm, Immanuel Kant xuất hiện như một làn gió mới. Theo Kant, kinh nghiệm của con người liên quan đến hai yếu tố:
  • Yếu tố thứ nhất là cảm năng, tức là khả năng nhận thức sự vật quanh ta. Những thứ được nhận thức qua cảm năng được gọi là trực giác.
  • Yếu tố thứ hai là giác tính, tức là khả năng sở hữu và sử dụng các khái niệm. Khái niệm ở đây có nghĩa là nhận thức gián tiếp về một vật.
Giả sử trước mặt ta là một cuốn sách: nếu không có khái niệm “sách” trong đầu, ta sẽ chẳng biết được thứ ta đang thấy trước mắt là gì, và nếu không có trực giác về cuốn sách (không nhìn thấy chẳng hạn) thì ta chẳng thể biết cuốn sách đó tồn tại. Tóm lại, Kant tin rằng cả khái niệm về “sách” trong ta và nhận thức của ta về cuốn sách (nhìn thấy nó) đều đến từ kinh nghiệm. Ta sẽ chẳng có cả hai thứ này nếu chưa từng bắt gặp cuốn sách nào.
Mặt khác, với Kant, thời gian và không gian lại là tiên nghiệm (có sẵn mà không cần qua kinh nghiệm). Kant nói rằng tồn tại hai thế giới, một thế giới gọi là thế giới hiện tượng, nơi ta nhận thức được, cái còn lại là thế giới tự thân, tồn tại tách biệt khỏi nhận thức của ta. Chủ nghĩa của Kant còn được gọi là chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm.
Jeremy Bentham là một nhà cải cách luật pháp kiêm triết gia. Ông quan tâm đến những vấn đề về lợi ích và hạnh phúc trong xã hội. Tư tưởng chủ đạo của ông là chủ nghĩa vị lợi, ở đó mọi quyết định xã hội nên được thực hiện nhằm đem lại lượng hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất. Một ví dụ cụ thể là giả sử có một kẻ bị phần lớn xã hội ghét bỏ, liệu ta có nên giết kẻ đó, nhằm đem lại sự thoả mãn cho phần đông của xã hội? Câu trả lời của chủ nghĩa vị lợi là có, khi mà lượng hạnh phúc đem lại cho số đông vượt xa lượng bất hạnh gây ra cho kẻ xấu số kia, mặc cho kẻ kia không làm gì đến mức đáng bị xử tử như vậy.

Một ví dụ tiêu biểu cho chủ nghĩa vị lợi: bạn sẽ hi sinh một người để cứu năm người chứ?

Một ví dụ tiêu biểu cho chủ nghĩa vị lợi: bạn sẽ hi sinh một người để cứu năm người chứ?
Triết gia John Stuart Mill được nuôi dạy và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ chủ nghĩa vị lợi của thầy mình là Jeremy Bentham. Ông đồng ý với thầy rằng quyết định tốt là quyết định mang lại nhiều hạnh phúc nhất có thể. Nhưng ông không đồng tình với cách Jeremy Bentham định lượng niềm hạnh phúc từ các nguồn khác nhau. Với Jeremy Bentham, mọi niềm hạnh phúc đều như nhau, dù nó đến từ việc được ăn một bữa ngon, hay nó đến từ việc có được thành tựu học thuật nào đó sau bao năm học hành nghiên cứu. Còn về phần Mill, ông quan niệm rằng có những niềm hạnh phúc cấp cao và cấp thấp, và những niềm vui trí tuệ thì cao cấp hơn những khoái lạc vật chất, mặc dù ông không đưa ra cách quy đổi giữa hai loại hạnh phúc này.
Cũng từ chủ nghĩa vị lợi, John Stuart Mill đưa ra quan điểm về một xã hội nơi mọi cá nhân được tự do làm điều mình muốn. Ở xã hội đó, cá nhân được tự do mưu cầu hạnh phúc, miễn là hành động của họ không làm ảnh hưởng đến sự tự do mưu cầu hạnh phúc của người khác. Ông tin rằng khi mọi người được tự do làm điều mình muốn (miễn là không ảnh hưởng đến người khác), họ sẽ phát triển tối đa tiềm năng của mình, từ đó toàn xã hội sẽ được hưởng lợi. Có thể thấy rằng những tư tưởng của John Stuart Mill xuất hiện tại nhiều xã hội thời nay.
Georg Hegel là triết gia nổi tiếng nhất nước Đức vào nửa đầu thế kỷ 19. Ông là một nhà nhất nguyên luận, nghĩa là ông tin rằng mọi thứ trên thế giới đều là những phương diện khác nhau của một thứ duy nhất. Hegel gọi thứ duy nhất này là Tinh thần. Theo Hegel, toàn bộ lịch sử đều do Tinh thần chi phối. Lịch sử vận động là do sự vận động của Tinh thần.
Quá trình phát triển của Tinh thần có được nhờ vào phép biện chứng, một khái niệm rất đặc thù trong tư tưởng Hegel. Với ông, mọi khái niệm trên thế giới này được gọi là chính đề. Bên trong khái niệm đó, tồn tại một mâu thuẫn, gọi là phản đề. Sự mâu thuẫn này được giải quyết bằng sự sinh ra của một khái niệm mới, kết hợp giữa chính đề và phản đề, được gọi là hợp đề. Một ví dụ về biện chứng là trong xã hội có khái niệm về sự chuyên chế, đây là chính đề. Trong chính đề này, tồn tại phản đề là sự tự do. Hai thứ này kết hợp lại, tạo nên hợp đề là nền pháp luật, thứ cai trị con người nhưng nhằm mục đích thúc đẩy tự do. Hợp đề đó tiếp tục tồn tại phản đề của chính nó, và kết hợp với nhau thành một hợp đề khác. Lịch sử phát triển là nhờ sự hình thành liên tục của các hợp đề. Đừng quên rằng mọi thứ đều là những phương diện khác nhau của Tinh thần, vậy nên quá trình lịch sử chính là Tinh thần đang tự đổi thay và vận động chính nó.

Phép biện chứng: Chính đề (thesis) + Phản đề (Antithesis) = Hợp đề (Synthesis)

Phép biện chứng: Chính đề (thesis) + Phản đề (Antithesis) = Hợp đề (Synthesis)
Cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh, Soren Kierkegaard, đã đem lại một góc nhìn mới cho nền triết học. Khi mà các triết gia bận tranh cãi về bản chất thực tại, bản chất của nhận thức, cách thiết kế luật pháp và xã hội, thì Kierkegaard đặt con người làm trung tâm với câu hỏi chủ đạo: ý nghĩa của cuộc sống là gì? Ông tin vào sự tự do ý chí, điều cho phép con người tự do lựa chọn hành động của chính mình. Con người khác với đồ vật ở chỗ, đồ vật có mục đích trước rồi mới hiện hữu, còn con người chúng ta hiện hữu trước rồi mới tự do tìm mục đích cho sự tồn tại của mình. Kierkegaard suy nghĩ về sự tự do của con người: chúng ta rất nhiều lựa chọn, chúng ta có thể chọn làm gì đó hoặc không làm gì, và sự tự do đó dấy lên trong chúng ta nỗi bất an dai dẳng. Chúng ta chỉ là bụi sao trời, sinh ra chẳng có mục đích, trôi lơ lửng trong vũ trụ mênh mông. Mục đích đời ta là do ta chọn. Chỉ mình ta mà thôi.
Karl Marx là một trong những triết gia ảnh hưởng bậc nhất trong lịch sử nhân loại. Ông quan sát, nghiên cứu xã hội loài người trong suốt chiều dài lịch sử, và đi đến kết luận về tiến trình phát triển của nhân loại: mọi diễn biến lịch sử đều là kết quả của mâu thuẫn giai cấp, với nguyên nhân gốc rễ là lợi ích kinh tế. Theo ông, xã hội tồn tại hai giai cấp: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản sở hữu hầu hết của cải và phương tiện sản xuất trong xã hội, trong khi giai cấp vô sản phải đi làm thuê cho tư sản.
Với Marx, giai cấp vô sản làm lụng cật lực cho tư sản, nhưng họ chỉ được trả công vừa đủ để không chết đói, trong khi phần lớn giá trị họ tạo ra đều chảy vào túi giai cấp tư sản. Marx đề xuất ý tưởng mang tên chủ nghĩa cộng sản, theo đó phương tiện sản xuất được biến thành tài sản chung của xã hội, mọi người làm việc hòa thuận với nhau vì lợi ích tập thể, mọi nhu cầu của xã hội được đáp ứng. Nói ngắn gọn, đây là làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Việc hình thành xã hội cộng sản, theo Marx, sẽ chấm dứt sự thống trị của giai cấp tư sản lên giai cấp vô sản. Ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản của Marx đã đóng vai trò vô cùng lớn trong những biến chuyển xã hội thế kỷ 20.
Thời kỳ cách mạng trôi qua với hàng loạt những đổi thay về chính trị, xã hội, khoa học và tư tưởng của nhân loại. Nhiều cuộc cách mạng và cải cách diễn ra trên toàn thế giới, mở ra thời kỳ hiện đại của những hệ tư tưởng và những cuộc chiến mang quy mô toàn cầu.

Phần 3: Hiện đại và đương đại

img_0
Phần 2 đã sơ lược nền triết học từ giai đoạn Phục hưng tới thời cận đại với những bước chuyển mình mạnh mẽ và đầy tươi mới. Tới thời hiện đại, triết học dần trở nên thực tiễn, ngoài ra còn khám phá nhiều chủ đề ngách, mở ra vô vàn những hướng đi mới cho các triết gia.

Thời hiện đại (năm 1900 – 1950)

Cuối thời cận đại, khoa học tự nhiên phát triển chóng mặt. Qua những công trình nghiên cứu về thuyết tiến hoá của Darwin, hay cách giải thích bản chất vũ trụ của Einstein, hay thuyết phân tâm của Freud, con người dần có những câu trả lời khá chắc chắn về đấng tối cao, sự tồn tại và tinh thần con người. Ngoài ra, thời kỳ hiện đại còn bị ảnh hưởng bởi rất nhiều những cuộc chiến tranh mang tầm thế giới và sự trỗi dậy của những hệ tư tưởng chính trị. Dần dà, nền triết học chuyển hướng sang triết học luân lý, triết học chính trị và logic học.
Friedrich Nietzsche, một triết gia người Phổ, đã làm giới triết học ngỡ ngàng với câu nói: Chúa đã chết. Xin được giải thích rằng, khái niệm Chúa ở đây không phải là đấng tối cao mà chúng ta vẫn thường nghĩ tới. Theo Nietzsche, khái niệm Chúa là đại diện cho những giá trị luân lý cao quý mà con người tin tưởng. Nietzsche thấy rằng xã hội con người vẫn luôn tin vào một số giá trị nào đó về đạo đức, luân lý, mục đích cuộc đời, và ông tin rằng những giá trị này cần được xét lại và nếu cần thì lật đổ.
Một ví dụ về tư tưởng Nietzsche là chúng ta được dạy rằng xã hội cần chăm sóc cho người già yếu vì nguyên tắc đạo đức. Nhưng niềm tin này từ đâu ra? Liệu chúng ta có nên cứ chấp nhận nó đúng thay vì xét hỏi bản chất của nó? Có những xã hội ở Papua New Guinea, họ giết bớt người già để đảm bảo cái ăn cho xã hội. Vậy ai đúng ai sai về giá trị đạo đức ở đây? Theo Nietzsche, những giá trị luân lý này phần nào đó trói buộc cuộc sống chúng ta. Ông tin rằng, với cái chết của Chúa, hay là cái chết của hệ giá trị luân lý xã hội, chúng ta giờ đây có được sự tự do tuyệt đối để đặt ra hệ giá trị cho riêng mình.

img_1

Với nhiều người, triết học chỉ đơn giản là suy nghĩ về thế giới quanh ta, nhiều khi chỉ để hiểu bản chất của nó thay vì phục vụ mục đích nào đó. Nhưng với John Dewey, một triết gia người Mỹ, thì đấy không nên là mục đích của triết học. Theo ông, triết học về bản chất đến từ sự tư duy của con người. Vậy vì sao con người tư duy? Vì con người có vấn đề cần giải quyết, có thắc mắc cần trả lời. Vậy nên tư duy được kích hoạt và triết học ra đời. Theo Dewey, mục đích của triết học nên là giải quyết vấn đề. Thay vì hỏi “đây có phải cách mà sự vật tồn tại không”, ta nên hỏi một cách thực dụng hơn là “tiếp nhận quan điểm này có ý nghĩa thực tiễn gì”. Sự thực tiễn của tư tưởng John Dewey đã có nhiều ảnh hưởng trong những lĩnh vực như giáo dục và chính trị.
Bertrand Russell, một triết gia xứ Wales, đưa ra một câu hỏi đánh động tới cốt lõi của logic: câu sau đây sai hay đúng “vua Pháp hiện nay hói đầu”. Thoạt nghĩ đến thì ta sẽ thấy câu này sai, vì hiện nay Pháp làm gì có vua. Nếu vậy tức là câu này sai, và ta có thể nói ra phiên bản phủ định rằng “vua Pháp hiện nay KHÔNG hói đầu”. Câu phủ định này đáng ra phải đúng, nhưng ta vẫn thấy sai với cùng lý do rằng hiện nay Pháp làm gì có vua.
Russell đưa ra những cấu trúc logic nhằm giải đáp vấn đề này: với một câu có dạng “A là B”, thì ta sẽ phân tích nó ra thành 3 mệnh đề riêng biệt là “có một A nào đó”, “chỉ có duy nhất một A là B”, “nếu cái gì là A thì nó là B”. Vậy câu nói “vua Pháp hiện nay hói đầu” được chia thành “có một thực thể nào đó đang là vua Pháp”, “chỉ có một thực thể đang là vua Pháp”, và “nếu thực thể nào đó đang là vua Pháp, thì thực thể đó hói đầu”. Nhờ có Russell, từ đây, các triết gia khác bắt đầu chú tâm vào nền tảng logic của ngôn ngữ.

Một nghịch lý mà Russell đề ra, được gọi là The Barber Paradox

Một nghịch lý mà Russell đề ra, được gọi là The Barber Paradox
Karl Popper, một triết gia Áo, hướng sự quan tâm của mình đến vai trò của triết học trong nghiên cứu khoa học. Theo ông, nền khoa học vào thời ông sống vẫn nghĩ rằng tôn chỉ của khoa học là tìm ra chân lý của thế giới. Hiểu biết khoa học vốn được tạo ra nhờ phép quy nạp, quá trình đi từ một số quan sát về thế giới dẫn đến kết luận tổng quát. Ví dụ, nếu một nhà khoa học đã quan sát loài thiên nga trong nhiều năm, và tất cả những con thiên nga ông từng thấy đều màu trắng, vậy thì ông sẽ đưa ra giả thuyết là mọi con thiên nga đều màu trắng.
Theo Karl Popper, giả thuyết này không thể được chứng minh là đúng hoàn toàn, mà chỉ có thể được chứng minh là sai, bằng việc ai đó thấy một con thiên nga đen. Đây được gọi là tính chất có-thể-kiểm-sai của giả thuyết, thứ mà Karl tin rằng là đặc tính then chốt của khoa học. Nếu chúng ta cứ mãi tìm ví dụ củng cố giả thuyết có sẵn, thì ta sẽ chẳng biết thêm điều gì. Còn nếu ta tìm được ví dụ lật đổ giả thuyết nào đó, một mảnh kiến thức mới sẽ được thêm vào kho tàng tri thức nhân loại. Không có gì là mãi đúng trong khoa học, chỉ có điều chưa được chứng minh là sai thôi.

Theo Karl Popper, khi một lý thuyết bị chứng minh là sai, kiến thức mới sẽ ra đời

Theo Karl Popper, khi một lý thuyết bị chứng minh là sai, kiến thức mới sẽ ra đời
Câu hỏi về ý nghĩa của việc làm người đã luôn ám ảnh các triết gia tự cổ chí kim. Trong Cơ Đốc giáo, con người được Chúa tạo ra với những mục đích nhất định. Còn theo Jean-Paul Sartre, một triết gia hiện sinh người Pháp, chúng ta tồn tại chẳng có mục đích gì sất. Chúng ta cứ thế xuất hiện và tồn tại giữa thế giới này, tự do tuyệt đối và cũng vô định vô cùng, vì chẳng có thế lực hay thánh thần nào đặt ra mục đích cho đời ta. Chúng ta tự định nghĩa mục đích cho sự tồn tại của chính mình, tự chịu trách nhiệm cho mọi thứ mình làm và mọi cảm nhận mình có. Với sự tự do ý chí tuyệt đối trong tay, con người tự tạo ra ý nghĩa cho đời mình, và rồi bao nỗ lực đó sẽ biến về hư vô khi cái chết gõ cửa. Theo Sartre, con người bị kết án phải tự do.

Tổng quan về các trường phái hiện sinh

Tổng quan về các trường phái hiện sinh

Thời đương đại (năm 1950 – nay)

Từ nửa sau thế kỷ 20 trở đi, các tiến bộ vượt bậc về công nghệ đưa xã hội phát triển nhanh hơn bao giờ hết. Triết học thời này mang đậm màu sắc về đạo đức, chính trị và công lý, vốn là những chủ đề gần gũi và ảnh hưởng trực tiếp lên cuộc sống hàng ngày của xã hội. Điều này phản ánh sự thực tiễn trong lối tiếp cận triết học của thế giới lúc bấy giờ.
John Rawls, một tư tưởng gia người Mỹ, trở nên nổi tiếng vào những năm 70 với tư tưởng về công lý xã hội. Theo ông, công lý thực sự cần đối xử với tất cả mọi người một cách công bằng không thiên vị, bất kể địa vị xã hội, giới tính, tôn giáo, giàu nghèo. Hình tượng lý tưởng trong tư tưởng ông là một nữ thần công lý bị bịt mắt, do đó mà trở nên vô tri với những thiên kiến có sẵn, sẵn sàng đưa ra sự bình đẳng tuyệt đối và sự trừng phạt không thiên vị. Nếu một người phạm tội, người đó sẽ bị trừng phạt, và giai cấp hay vị thế xã hội của họ sẽ chẳng thể tác động đến hình phạt mà họ sắp chịu.

Theo John Rawls, nữ thần công lý cần bị bịt mắt bởi tấm màn thờ ơ (Veil of Ignorance), nhằm xoá đi mọi thiên kiến về của cải, địa vị, giới tính, tuổi tác

Theo John Rawls, nữ thần công lý cần bị bịt mắt bởi tấm màn thờ ơ (Veil of Ignorance), nhằm xoá đi mọi thiên kiến về của cải, địa vị, giới tính, tuổi tác
Triết gia Đức Jurgen Habermas được biết đến nhiều nhất với nghiên cứu về khái niệm không gian công. Theo ông, từ thế kỷ 18 đổ về trước, văn hoá đa phần được đại diện bởi tầng lớp thống trị, ví dụ như những công trình kiến trúc hay những lễ hội hoành tráng tổ chức bởi vua chúa và quý tộc.
Nhưng từ sau thời gian này trở đi, một số loại hình không gian công ra đời, hoạt động như vùng đệm giữa không gian riêng tư và không gian chịu sự kiểm soát của giới cầm quyền. Một số ví dụ về không gian công có thể kể đến là các quán cà phê, những quảng trường, ấn phẩm báo chí, hội thảo. Trong những không gian công này, các cá nhân trong xã hội có thể tụ họp nhằm bàn bạc và tranh luận về các vấn đề xã hội, gia tăng cơ hội xuất hiện những ý tưởng chất vấn thẩm quyền nhà nước. Khi các cá nhân trong xã hội đặt nghi vấn về hệ thống cầm quyền, kết hợp với sự xuất hiện của không gian công thúc đẩy trao đổi thông tin, nhiều cải cách xã hội đã ra đời.
Habermas cũng lo lắng rằng những không gian công này có thể bị kìm hãm bởi nhà nước, ví dụ như nền báo chí bị nhà nước thâu tóm và chỉ chú tâm đăng tải chuyện phiếm về người nổi tiếng thay vì nói lên những nhức nhối của xã hội. Khi đó, các cá nhân trong xã hội dần biến thành những người tiêu thụ sản phẩm giải trí thay vì những cá thể có lý trí và tư duy phê phán. Điều này làm chậm sự phát triển của xã hội.

Ý tưởng về không gian công (Public sphere) của Habermas, nơi mà các ý tưởng sẽ được tập hợp và dần được đưa lên các cấp độ cao hơn như quốc hội và nhà nước

Ý tưởng về không gian công (Public sphere) của Habermas, nơi mà các ý tưởng sẽ được tập hợp và dần được đưa lên các cấp độ cao hơn như quốc hội và nhà nước
Luân lý đến từ đâu? Câu hỏi này đã làm đau đầu các thế hệ triết gia trong lịch sử. Với Richard Rorty, một triết gia Mỹ, thế giới này chẳng có giá trị luân lý tuyệt đối nào cả. Ví dụ, nếu ta được hỏi về một vấn đề đạo đức, như liệu có được đối xử tàn nhẫn với động vật không, thường thì ta sẽ phản đối. Từ câu trả lời đó, người khác có thể tiếp tục hỏi ta rằng vì sao ta ăn thịt từ những con vật bị giết mổ. Cứ thế, bằng phương pháp hỏi Socrates, khi càng nhiều câu hỏi được đặt ra, ta càng đuối lý và thấy được sự mâu thuẫn trong niềm tin của chính mình.
Đến cuối cùng, ta chỉ có thể nói rằng: trong thâm tâm tôi biết rằng việc này sai trái. Vậy chân lý từ “thâm tâm” này từ đâu đến? Richard Rorty tin rằng chân lý có sẵn trong thâm tâm như vậy không tồn tại, tất cả chỉ là ta và xã hội tự tạo ra. Theo ông, điều này không hề tiêu cực. Ông cho rằng không cần một hệ giá trị đạo đức tuyệt đối, mà chỉ cần xã hội này đoàn kết và đối thoại với nhau, là ta sẽ tự tạo ra được những khái niệm về đạo đức đủ thực tiễn cho mình.
Peter Singer là một triết gia người Úc với mối quan tâm sâu sắc đến chủ nghĩa vị lợi. Chủ nghĩa vị lợi nhắm tới việc có được tổng số hạnh phúc lớn nhất. Trong khi các triết gia vị lợi trước đây chỉ đặt con người vào phép tính, thì Peter Singer nghĩ đến đến cả động vật. Với ông, động vật cũng có khả năng cảm nhận nỗi đau, vậy nên hành động giết mổ hay thí nghiệm lên động vật gây đau đớn cho chúng chẳng kém cạnh gì làm điều tương đương lên con người. Theo ông, con người có thể từ bỏ thức ăn có nguồn gốc động vật. Cách này có thể làm giảm hạnh phúc của con người đi một chút nhỏ nhoi (bữa ăn có thể bớt ngon) nhưng lại không gây ra hàng tấn đau khổ cho động vật. Điều này hoàn toàn hợp lý khi xét theo chủ nghĩa vị lợi, khi mà kết quả là tổng số hạnh phúc cao hơn nhiều so với khi con người giết động vật để ăn.
Nói không ngoa, triết học là cội nguồn của mọi bộ môn khoa học. Nó xuất phát từ những niềm thắc mắc và tính tò mò của con người. Nó xuất phát từ những câu hỏi làm ta nhíu mày hàng thiên niên kỷ. Hãy nhìn xung quanh: mọi thể chế, luật pháp, giá trị đạo đức, phát kiến khoa học, cấu trúc xã hội, tất cả đều được góp phần nhen nhóm và nhào nặn nhờ bàn tay của triết học. Nhờ tư duy của giống loài chúng ta.
Tôi tư duy, nên tôi tồn tại.
Con người sinh ra có tư duy. Vậy nếu ta không tư duy, thì ta tồn tại làm gì?

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *